Tra cứu

Lịch sử đơn hàng

Astra
(00014721)
Đã copy nội dung

Tenolam 3X10

(00014721)
Đã copy nội dung
Astra
(00014721)
Đã copy nội dung

Tenolam 3X10

(00014721)
Đã copy nội dung
Thành phần: Tenofovir disoproxil, Lamivudine
Quy cách: Hộp 3 vỉ x 10 viên
Dạng bào chế: Viên nén bao phim
Xuất xứ thương hiệu: Ấn Độ
Thuốc cần kê toa:
Đối tượng:
Số đăng ký: VN2-399-15
Độ tuổi: Trên 12 tuổi
Cảnh báo: Phụ nữ có thai, Phụ nữ cho con bú
Nhà sản xuất: Atra Pharmaceuticals Limited
Nước sản xuất: India
NHÀ THUỐC LONG CHÂU CAM KẾT

Đổi trả trong 30 ngày

kể từ ngày mua hàng

Miễn phí 100%

đổi thuốc

Miễn phí vận chuyển

theo chính sách giao hàng

1800 6928

Gọi tư vấn (8:00-22:00)

Tenolam Là Gì?

Thuốc TENOLAM là sản phẩm của công ty Atra Pharmaceuticals Limited, Ấn Độ. Thuốc dạng viên nén bao phim kết hợp liều cố định tenofovir disoproxil fumarat 300 mg/ lamivudin 100 mg được chỉ định trong điều trị nhiễm Virus HIV – 1, gây suy giảm miễn dịch ở người lớn và thanh thiếu niên (từ 12 tuổi trở lên và cân nặng ≥ 35 kg) và bệnh nhân nhiễm HBV đã thất bại điều trị với tenofovir disoproxil fumarat hoặc lamivudin đơn trị liệu.

Thuốc đóng gói hộp 1 vỉ x 10 viên hoặc hộp 3 vỉ x 10 viên.

Thành Phần

Thông Tin Thành Phần

Viên nén bao phim có chứa:

Thành phần

Hàm lượng

Tenofovir disoproxil

300mg

Lamivudine

100mg

Công Dụng Của Tenolam

Chỉ định

Thuốc TENOLAM được chỉ định dùng trong các trường hợp sau:

Điều trị nhiễm Virus HIV - 1 gây suy giảm miễn dịch ở người lớn và thanh thiếu niên (từ 12 tuổi trở lên và cân nặng ≥ 35 kg).

Điều trị cho bệnh nhân nhiễm HBV đã thất bại điều trị với Tenofovir Disoproxil Fumarat hoặc lamivudin đơn trị liệu.

Dược lực học

Tenofovir disoproxil fumarat là muối fumarat của tiền dược tenofovir disoproxil. Tenofovir disoproxil được hấp thu và chuyển hóa thành dạng hoạt tính tenofovir, là một đồng đẳng nucleosid monophosphat (nucleotid). Sau đó tenofovir được chuyển thành chất chuyển hóa có hoạt  tính tenofovir diphosphat, bởi các emzyme tế bào thông qua hai phản ứng phosphoryl hóa trong cả tế bào T hoạt hóa và không hoạt hóa. Tenofovir diphosphat có thời gian bán hủy là 10 giờ trong các tế bào đã hoạt hóa và 50 giờ trong các tế bào bạch cầu đơn nhân không hoạt hóa trong máu ngoại vi.

Tenofovir diphosphat ức chế polymerase virus bằng sự cạnh tranh gắn kết trực tiếp với chất nền tự nhiên deoxyribonucleotid và bởi sự kết thúc chuỗi DNA sau khi hợp nhất vào DNA. Tenofovir diphosphate là một chất ức chế yếu các polymerase tế bào α, β, và γ với hằng số ức chế động học (K) cao hơn gấp 200 lần so với DNA polymerase của tế bào α người (5,2 μmol/ l) và cao hơn gấp 3000 lần so với DNA polymerase của tế bào β và γ người (81,7 và 59,5 μmol/ l, tương ứng), hơn Ki của enzyme sao chép ngược HIV - 1 (0,02 μmol/ l). Ở nồng độ lên đến 300 μmol/ l, tenofovir cho thấy không tác động trên sự tổng hợp của DNA ty lạp thể hoặc sự sản xuất acid lactic trong thử nghiệm in vitro.

Các dữ liệu liên quan đến HIV:

Hoạt động kháng virus HIV trên in vitro: Nồng độ yêu cầu của tenofovir để ức chế 50% (EC50) chủng HIV - 1 cận lâm sàng loại hoang dại là 1 - 6 μmol/ l trong các dòng tế bào bạch huyết và là 1,1 μmol/ l đối với các chủng phân lập HIV-1 phân nhóm B trong các tế bào bạch cầu đơn nhân trong máu ngoại vi. Tenofovir cũng có hoạt tính chống lại HIV - 1 phân nhóm A, C, D, E, F, G, và O và chống lại HlVBaL, trong các tế bào bạch cầu đơn nhân to nguyên thủy/ đại thực bào nguyên thủy. Tenofovir chỉ ra có hoạt tính trên in vitro chống lại HIV- 2, với EC50 là 4,9 μmol/ l trong các tế bào MT - 4.

Kháng thuốc: Các chủng HIV - 1 có tính nhạy cảm giảm 3 - 4 lần đối với tenofovir và một đột biến K65R trong sao chép ngược đã được ghi nhận trên in vitro và ở một số bệnh nhân (xem các kết quả lâm sàng). Tenofovir disoproxil fumarat nên tránh dùng ở những bệnh nhân đã từng dùng kháng retrovirus với chủng đột biến K65R.

Các nghiên cứu lâm sàng ở những bệnh nhân đã trải qua việc điều trị được đánh giá hoạt động chống lại HIV của tenofovir disoproxil 245 mg (dưới dạng fumarat) đối với các chủng HIV - 1 kháng thuốc ức chế nucleosid. Các kết quả chỉ ra rằng những bệnh nhân mà HIV có 3 hay nhiều hơn các đột biến kết hợp đồng đẳng thymidine (TAMs) mà kể cả đột biến enzyme sao chép ngược hoặc M41L hoặc L210W đã cho thấy giảm tính đáp ứng với trị liệu tenofovir disoproxil 245 mg (dưới dạng fumarat).

Hiệu quả và tính an toàn lâm sàng: Hiệu quả của Tenofovir disoproxil fumarat ở những người lớn bị nhiễm HIV - 1 đã từng và chưa từng bao giờ điều trị với tenofovir đã được chứng minh trong các thử nghiệm lâm sàng 48 tuần và 144 tuần, tương ứng.

Trong nghiên cứu GS - 99 - 907, 550 bệnh nhân đã từng điều trị được điều trị với giả dược hoặc tenofovir disoproxil 245 mg (dưới dạng fumarat) trong 24 tuần. Số lượng tế bào CD4 ban đầu trung bình là 427 tế bào/ mm3, RNA HIV - 1 trong huyết tương ban đầu trung bình là 3,4 log10 bản sao/ ml (78% bệnh nhân có tải lượng virus là nhỏ hơn 5000 bản sao/ ml) và thời gian điều trị HIV trước đó trung bình là 5,4 năm. Phân tích cấu trúc di truyền ban đầu của các chủng HIV phân lập từ 253 bệnh nhân cho thấy 94% bệnh nhân có HlV - 1 mang các đột biến liên quan tới các thuốc NRTI, 58% bệnh nhân có các đột biến liên quan tới các thuốc ức chế protease và 48% bệnh nhân có các đột biến liên quan tới các thuốc NNRTI.

Ở tuần 24, sự thay đổi trung bình theo thời gian so với giá trị ban đầu về nồng độ RNA HIV - 1 trong huyết tương log10 (DAVG24) là -0,03 log10 bản sao/ ml và -0,61 log10  bản sao/ ml tương ứng ở những bệnh nhân dùng giả dược và tenofovir disoproxil 245 mg (dưới dạng fumarat) (p < 0,0001). Người ta thấy có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê với ưu thế nghiêng về nhóm tenofovir disoproxil liều 245 mg (dưới dạng fumarat) được quan sát thấy về biến đổi trung bình số lượng tế bào CD4 theo thời gian vào tuần thứ 24 (DAVG24) so với lúc ban đầu (+13 tế bào/ mm3 ở nhóm tenofovir disoproxil liều 245 mg (dưới dạng fumarat) so với -11 tế bào/ mm3 ở nhóm giả dược, giá trị p = 0,0008).

Đáp ứng chống virus của tenofovir disoproxil fumarat là bền vững suốt 48 tuần (DAVG48 là -0,57 log10 bản sao/ ml, tỉ lệ bệnh nhân có RNA HIV - 1 dưới 400 hoặc 50 bản sao/ ml là 41% và 18% tương ứng). 8 bệnh nhân (2%) điều trị với tenofovir disoproxil 245 mg (dưới dạng fumarat) đã phát sinh đột biến K65R trong vòng 48 tuần đầu.

Pha có đối chứng hoạt tính, mù đôi, 144 tuần của nghiên cứu GS - 99 - 903 đã đánh giá hiệu lực và tính an toàn của tenofovir disoproxil 245 mg (dưới dạng fumarat) so với stavudin khi được dùng kết hợp với lamivudin và efavirenz để điều trị cho những bệnh nhân nhiễm HIV-1 dùng thuốc kháng retrovirus lần đầu. Số lượng tế bào CD4 ban đầu trung bình là 279 tế bào/ mm3, RNA HIV - 1 huyết tương ban đầu trung bình là 4,91 log10 bản sao/ ml, 19% số bệnh nhân này nhiễm HIV - 1 có triệu chứng và 18% đã bị AIDS. Các bệnh nhân được phân loại dựa trên số lượng RNA HIV - 1 và CD4 ban đầu. 43% số bệnh nhân có tải lượng virus lớn hơn 100.000 bản sao/ ml và 39% số bệnh nhân có số lượng tế bào CD4 nhỏ hơn 200 tế bào/ ml.

Bằng phân tích quá trình điều trị (các dữ liệu bị mất và việc chuyển phác đồ điều trị kháng retrovirus được xem như thất bại), tỉ lệ bệnh nhân có RNA HIV - 1 dưới 400 bản sao/ ml và 50 bản sao/ ml ở tuần điều trị thứ 48 tương ứng là 80% và 76% trong nhóm điều trị bằng tenofovir disoproxil 245 mg (dưới dạng fumarat), so với 84% và 80% trong nhóm điều trị bằng stavudin. Ở tuần thứ 144, tỉ lệ bệnh nhân có RNA HIV - 1 dưới 400 bản sao/ ml và 50 bản sao/ ml tương ứng là 71% và 68% trong nhóm điều trị bằng tenofovir disoproxil 245 mg (dưới dạng fumarat), so với 64% và 63% trong nhóm điều trị bằng stavudin.

Biến đổi trung bình so với ban đầu về số lượng RNA HIV - 1 và CD4 ở tuần điều trị thứ 48 là tương đương ở cả 2 nhóm điều trị (-3,09 và -3,09 log10 bản sao/ ml; +169 và +167 tế bào/ mm3 ở các nhóm điều trị bằng tenofovir disoproxil 245 mg (dưới dạng fumarat) và stavudin, tương ứng).

Ở tuần điều trị thứ 144, sự biến đổi trung bình so với ban đầu vẫn tương tự ở cả 2 nhóm điều trị (-3,07 và -3,03 log10 bản sao/ ml; +263 và +283 tế bào/ mm3 tương ứng ở các nhóm điều trị bằng tenofovir disoproxil 245 mg (dưới dạng fumarat) và nhóm stavudin). Người ta thấy rằng đáp ứng bền vững với phác đồ tenofovir disoproxil 245 mg (dưới dạng fumarat) không liên quan tới số lượng RNA HIV - 1 và CD4 ban đầu.

Tỉ lệ xuất hiện đột biến K65R ở các bệnh nhân nhóm tenofovir disoproxil fumarat hơi cao hơn nhóm đối chứng hoạt tính (2,7% so với 0,7%). Trong tất cả các trường hợp sự đề kháng với efavirenz hoặc với lamivudin đã có từ trước hoặc xuất hiện đồng thời với sự xuất hiện của K65R. Có 8 bệnh nhân nhiễm HIV mang đột biến K65R trong nhóm tenofovir disoproxil 245 mg (dưới dạng fumarat), 7 trong số này đã xuất hiện đột biến 48 tuần đầu điều trị và trường hợp còn lại xuất hiện ở tuần 96. Không có thêm trường hợp đột biến K65R nào cho đến tuần thứ 144. Từ phân tích kiểu gen và kiểu hình cho thấy không có bằng chứng về các nguyên nhân khác của sự đề kháng tenofovir.

Nhóm bệnh nhân nhi: Trong nghiên cứu GS - US - 104 - 0321, 87 bệnh nhân nhiễm HIV - 1 tuổi từ 12 đến < 18 đã từng điều trị kháng retrovirus được dùng tenofovir disoproxil fumarat (n = 45) hoặc giả dược (n = 42) kết hợp với một phác đồ tối ưu (OBR) trong 48 tuần. Số lượng tế bào CD4 ban đầu trung bình là 374 tế bào/ mm3 và nồng độ RNA HIV - 1 trong huyết tương ban đầu là 4,6 log10 bản sao/ ml.

Lamivudin

Lamivudin là một chất đồng đẳng nucleosid có hoạt tính chống lại virus gây suy giảm miễn dịch ở người (HIV) và virus viêm gan B (HBV). Chất này được chuyển hóa trong tế bào thành dạng hoạt động lamivudin 5' - triphosphate. Cơ chế tác dụng chính của thuốc là kết thúc chuỗi sao chép ngược của virus. Dạng triphosphate có tác dụng ức chế chọn lọc đối với sự sao chép của HIV - 1 và HIV - 2 trên in vitro; nó cũng có hoạt tính chống lại các chủng HIV đề kháng với zidovudin phân lập được trên lâm sàng. Lamivudin kết hợp với zidovudin cho tác dụng hiệp đồng kháng HIV chống lại các chủng phân lập trên lâm sàng được nuôi cấy tế bào.

Sự đề kháng của HIV - 1 đối với lamivudin là do có sự thay đổi amino acid M184V gần vị trí hoạt động của men sao chép ngược của virus (RT). Biến thể này xuất hiện cả trên in vitro và trên bệnh nhân nhiễm HIV - 1 được điều trị với thuốc kháng retrovirus có chứa lamivudin. Đột biến M184V làm giảm mạnh tính nhạy cảm với lamivudin và làm giảm khả năng sao chép của virus trên in vitro. Các nghiên cứu in vitro cho thấy các chủng phân lập virus kháng zidovudin có thể trở nên nhạy cảm với zidovudin khi chúng kháng đồng thời với lamivudin. Tuy nhiên, sự liên quan của những phát hiện này trên lâm sàng chưa được xác định rõ.

Sự đề kháng chéo do đột biến M184V ở men sao chép ngược mang lại chỉ giới hạn trong phạm vi nhóm thuốc kháng retrovirus dạng ức chế nucleosid. Zidovudin và stavudin vẫn duy trì hoạt tính kháng retrovirus chống lại HIV - 1 kháng lamivudin. Abacavir vẫn giữ được hoạt tính kháng retrovirus chống lại HIV - 1 kháng lamivudin chỉ mang đột biến M184V. Đột biến M184V ở men sao chép ngược làm giảm sự nhạy cảm đối với didanosine và zalcitabine dưới 4 lần; ý nghĩa lâm sàng của những phát hiện này chưa được biết. Các thử nghiệm nhạy cảm in vitro không được chuẩn hóa và kết quả có thể thay đổi theo các yếu tố phương pháp học.

Lamivudin thể hiện độc tính tế bào thấp đối với tế bào lympho máu ngoại vi, đối với các dòng tế bào bạch cầu đơn nhân to - đại thực bào và tế bào lympho và đối với tế bào tiền thân tủy xương trên in vitro.

Kinh nghiệm lâm sàng:

Trong các thử nghiệm lâm sàng, lamivudin kết hợp với zidovudin đã làm giảm tải lượng virus HIV - 1 và tăng số lượng tế bào CD4. Các dữ liệu lâm sàng cho thấy lamivudin kết hợp với zidovudin làm giảm có ý nghĩa nguy cơ phát triển bệnh và tử vong.

Chứng cứ từ các nghiên cứu lâm sàng cho thấy lamivudin cộng với zidovudin làm chậm sự xuất hiện các chủng virus kháng zidovudin ở các bệnh nhân không trị liệu kháng retrovirus trước đó.

Lamivudin được dùng rộng rãi như một thành phần trong trị liệu kết hợp kháng retrovirus với các tác nhân kháng retrovirus khác cùng nhóm (các thuốc NRTI) hoặc khác nhóm (các thuốc ức chế protease, các thuốc NNRTI).

Trị liệu kháng retrovirus đa thuốc chứa lamivudin đã cho thấy có hiệu quả ở những bệnh nhân chưa từng bao giờ dùng kháng retrovirus trước đó cũng như ở những bệnh nhân hiện tại mang virus chứa đột biến M184V.

Dược động học

Hấp thu

Sau khi uống tenofovir disoproxil fumarat ở những bệnh nhân nhiễm HIV, tenofovir disoproxil fumarat được hấp thu nhanh và được chuyển hóa thành tenofovir. Dùng nhiều liều tenofovir disoproxil fumarat cùng với thức ăn ở những bệnh nhân nhiễm HIV dẫn đến các giá trị trung bình (%CV) của Cmax, AUC0-∞, và Cmin của tenofovir tương ứng là 326 (36,6%) ng/ ml, 3324 (41,2%) ng-hr/ ml và 64,4 (39,4%) ng/ ml. Nồng độ tối đa của tenofovir trong huyết thanh đạt được trong vòng 1 giờ khi dùng trong tình trạng đói và 2 giờ khi dùng với thức ăn. Sinh khả dụng đường uống của tenofovir từ tenofovir disoproxil fumarat ở những bệnh nhân nhịn đói khoảng 25%. Dùng tenofovir disoproxil fumarat với bữa ăn có lượng chất béo cao làm tăng sinh khả dụng đường uống, với sự tăng AUC của tenofovir khoảng 40% và Cmax, khoảng 14%. Sau liều đầu tiên của tenofovir disoproxil fumarat ở những bệnh nhân đã ăn, Cmax trung bình trong huyết thanh thay đổi từ 213 - 375 ng/ ml. Tuy nhiên, dùng tenofovir disoproxil fumarat với bữa ăn nhẹ không có sự ảnh hưởng có ý nghĩa trên dược động học của tenofovir.

Lamivudin được hấp thu tốt qua đường tiêu hóa và sinh khả dụng đường uống ở người lớn thông thường từ 80 - 85%. Sau khi uống, thời gian trung bình (tmax) để đạt nồng độ tối đa trong huyết thanh (Cmax) là khoảng 1 giờ. Dùng đồng thời lamivudin với thức ăn dẫn đến việc làm chậm tmax và Cmax, thấp hơn (giảm 47%). Tuy nhiên, mức độ lamivudin được hấp thu không bị ảnh hưởng (dựa trên AUC).

Phân bố

Sau khi uống, tenofovir được phân bố đến hầu hết các mô với nồng độ cao nhất ở thận, gan và lòng ruột (các nghiên cứu tiền lâm sàng). Trên in vitro, mức độ gắn kết của tenofovir với protein huyết tương hoặc huyết thanh là ít hơn 0,7 và 7,2%, tương ứng, với nồng độ của tenofovir nằm trong khoảng từ 0,01 - 25 μg/ ml.

Thể tích phân bố trung bình của tenofovir là 1,3 l/ kg. Thời gian bán hủy là 5 - 7 giờ. Độ thanh thải toàn thân trung bình khoảng 0,32 l/ giờ / kg, với độ thanh thải chủ yếu qua thận là lớn hơn 70% qua hệ vận chuyển cation hữu cơ.

Lamivudin có dược động học tuyến tính trong khoảng liều điều trị và có sự gắn kết hạn chế với protein albumin huyết tương (< 16% - 36% đối với albumin huyết thanh trong các nghiên cứu in vitro).    .

Các dữ liệu còn hạn chế cho thấy lamivudin thâm nhập được vào hệ thần kinh trung ương và đến dịch não tủy (CSF). Tỉ lệ trung bình của nồng độ lamivudin trong dịch não tủy và trong huyết thanh sau khi uống 2 - 4 giờ là khoảng 0,12. Mức độ thâm nhập thật sự hoặc mối quan hệ với hiệu quả lâm sàng chưa được biết.

Chuyển hóa

Trong các nghiên cứu in vitro đã xác định rằng cả tenofovir disoproxil fumarat lẫn tenofovir đều không phải là chất nền của hệ enzyme CYP450. Hơn nữa, ở các nồng độ cao hơn (khoảng 300 lần), tenofovir đã không ức chế sự chuyển hóa thuốc trên in vitro gián tiếp qua bất kỳ đồng dạng nào của CYP450 người liên quan đến sự biến đổi sinh học thuốc (CYP3A4, CYP2D6, CYP2C9, CYP2E1 hoặc CYP1A1/ 2). Tenofovir disoproxil fumarat ở nồng độ 100 μmol/ l không ảnh hưởng trên bất kỳ đồng dạng nào của CYP450, ngoại trừ CYP1A1/ 2, mà sự giảm nhỏ (6%) nhưng có ý nghĩa thống kê trong chuyển hóa chất nền CYP1A1/ 2 đã được ghi nhận. Dựa trên những dữ liệu này, không chắc rằng sự tương tác có ý nghĩa lâm sàng liên quan đến tenofovir disoproxil fumarat và các sản phẩm thuốc được chuyển hóa bởi CYP450 sẽ xảy ra.

Thời gian bán hủy pha cuối của lamivudin triphosphat trong tế bào kéo dài (16 - 19 giờ) so với thời gian bán hủy của lamivudin trong huyết tương (5 - 7 giờ).

Lamivudin được thải trừ chủ yếu ở dạng không thay đổi bởi sự bài tiết qua thận. Khả năng xảy ra sự tương tác chuyển hóa của lamivudin với các thuốc khác là thấp do mức độ chuyển hóa qua gan nhỏ (5 - 10%) và sự gắn kết protein huyết tương thấp.

Thải trừ

Tenofovir được bài tiết chủ yếu qua thận bằng cả con đường lọc ở cầu thận và qua hệ thống vận chuyển chủ động ở ống thận, khoảng 70 - 80% liều dùng đường tĩnh mạch được bài tiết qua nước tiểu dưới dạng không đổi. Độ thanh thải toàn phần ước tính là khoảng 230 ml/ giờ/ kg (khoảng 300 ml/ phút). Độ thanh thải qua thận ước tính là khoảng 160 ml/ giờ/ kg (khoảng 210 ml/ phút), tốc độ thanh thải tenofovir cao hơn nhiều so với tốc độ lọc ở cầu thận. Điều này chỉ ra rằng bài tiết chủ động qua ống thận đóng vai trò quan trọng trong việc thải trừ tenofovir. Thời gian bán hủy pha cuối của tenofovir sau khi uống khoảng 12 - 18 giờ.

Các nghiên cứu đã xác định đường thải trừ chủ động của tenofovir qua ống thận là đi vào ống lượn gần nhờ chất vận chuyển anion hữu cơ người (hOAT) 1 và 3 và thải ra nước tiểu nhờ protein vận chuyển dòng ra (protein đề kháng đa thuốc - MRP 4)

Các nghiên cứu ở những bệnh nhân suy thận cho thấy sự thải trừ của lamivudin bị ảnh hưởng bởi sự rối loạn chức năng thận. Một chế độ liều khuyến cáo cho những bệnh nhân có độ thanh thải creatinine dưới 50 ml/ phút được chỉ ra trong mục liều dùng.

Sự tương tác với trimethoprim, một thành phần của co - trimoxazole, làm tăng 40% sự hấp thu của lamivudin ở các liều trị liệu. Điều này không yêu cầu chỉnh liều trừ khi bệnh nhân cũng có suy thận. Việc dùng co - trimoxazole với lamivudin ở những bệnh nhân suy thận nên được đánh giá cẩn thận.

Giới tính

Các dữ liệu hạn chế về dược động học ở phụ nữ cho thấy không có sự ảnh hưởng nhiều của giới tính.

Tính cách sắc tộc

Dược động học chưa được nghiên cứu một cách cụ thể ở các nhóm dân tộc khác nhau.

Suy thận

Các thông số dược động học của tenofovir được xác định sau khi dùng liều duy nhất tenofovir disoproxil 245 mg cho 40 bệnh nhân không nhiễm HIV có các mức độ suy thận khác nhau được xác định dựa vào độ thanh thải creatinine ban đầu (CrCI) (chức năng thận bình thường khi CrCI > 80 ml/ phút; suy thận nhẹ khi CrCI = 50 - 79 ml/ phút; suy thận trung bình khi CrCl = 30 - 49 ml/ phút và suy thận nặng khi CrCl = 10 - 29 ml/ phút).

Khi so với những bệnh nhân có chức năng thận bình thường, độ hấp thu trung bình của tenofovir (%CV) tăng từ 2185 (12%) ng.giờ/ ml ở những bệnh nhân có CrCI > 80 ml/ phút đến 3064 (30%) ng.giờ/ ml, 6009 (42%) ng.giờ/ ml và 15985 (45%) ng. giờ/ ml tương ứng ở những bệnh nhân suy thận nhẹ, trung bình và nặng. Sự khuyến cáo về liều dùng ở những bệnh nhân suy thận với khoảng cách giữa 2 lần dùng thuốc tăng có thể dẫn đến nồng độ đỉnh trong huyết tương cao hơn và nồng độ Cmin thấp hơn ở những bệnh nhân suy thận so với bệnh nhân có chức năng thận bình thường. Sự liên quan của vấn đề này trên lâm sàng chưa được biết.

Ở những bệnh nhân bệnh thận giai đoạn cuối (ESRD) (CrCI < 10 ml/ phút) đang yêu cầu thẩm phân máu, nồng độ tenofovir giữa các lần thẩm tách tăng đáng kể trong suốt 48 giờ đạt được Cmax trung bình là 1032 ng/ ml và AUC0-48h trung bình là 42857 ng.giờ/ ml.

Khoảng cách liều của tenofovir disoproxil 245 mg (dưới dạng fumarat) được khuyến cáo giảm nhẹ ở những bệnh nhân có độ thanh thải creatinine < 50 ml/ phút hoặc ở những bệnh nhân có bệnh thận giai đoạn cuối và yêu cầu thẩm tách.

Dược động học của tenofovir ở những bệnh nhân không thẩm phân máu có độ thanh thải creatinine < 10 ml/ phút và ở những bệnh nhân có bệnh thận giai đoạn cuối được kiểm soát bằng thẩm phân màng bụng hoặc các hình thức khác của thẩm phân không được nghiên cứu.

Nồng độ Lamivudin tăng ở những bệnh nhân suy thận trung bình đến nặng do độ thanh thải giảm.

Suy gan

Liều duy nhất 245 mg tenofovir disoproxil được dùng cho những bệnh nhân không nhiễm HIV có các mức độ suy gan khác nhau được xác định theo sự phân loại Child - Pugh - Turcotte (CPT). Dược động học của tenofovir về cơ bản không bị thay đổi ở những bệnh nhân suy gan gợi ý rằng không cần điều chỉnh liều ở những bệnh nhân này. Giá trị Cmax trung bình (hệ số biến thiên - CV%) và AUC0-∞ trung bình (%CV) là 223 (34,8%) ng/ ml và 2,050 (50,8%) ng.giờ/ ml, tương ứng, ở những bệnh nhân bình thường so với 289 (46%) ng/ ml và 2,310 (43,5%) ng.giờ/ ml ở những bệnh nhân suy gan trung bình và 305 (24,8%) ng/ ml và 2,740 (44%) ng.h/ ml ở những bệnh nhân suy gan nặng.

Dược động học của lamivudin không bị ảnh hưởng đáng kể bởi sự suy chức năng gan.

Liều Dùng Của Tenolam

Cách dùng

Dùng đường uống với thức ăn. Để hấp thu tốt nhất tenofovir, viên kết hợp liều cố định Tenofovir Disoproxil Fumarat 300 mg/ Lamivudin 100 mg được khuyến cáo nên được dùng với thức ăn.

Trong các trường hợp ngoại lệ ở những bệnh nhân nuốt đặc biệt khó khăn, có thể dùng sau khi cho rã viên thuốc Tenofovir Disoproxil Fumarat 300 mg/ Lamivudin 100 mg trong ít nhất 100 ml nước, nước cam hoặc nước nho.

Liều dùng

Người lớn

Liều khuyến cáo của viên kết hợp liều cố định tenofovir disoproxil fumarat 300 mg/ lamivudin 100 mg (1 viên) là 1 lần mỗi ngày.

Khi có chỉ định ngừng điều trị với một trong các thành phần của viên kết hợp liều cố định tenofovir disoproxil fumarat 300 mg/ lamivudin 100 mg hoặc cần thay đổi liều thì có thể dùng các thuốc có thành phần tenofovir disoproxil fumarat và lamivudin đơn chất.

Nếu bệnh nhân nôn trong vòng 1 giờ sau khi uống viên kết hợp liều cố định tenofovir disoproxil fumarat 300 mg/ lamivudin 100 mg, bệnh nhân nên uống lại một viên kết hợp. Nếu bệnh nhân nôn sau 1 giờ sau khi uống viên kết hợp liều cố định tenofovir disoproxil fumarat 300 mg/ lamivudin 100 mg thì bệnh nhân không cần uống lại viên kết hợp.

Bệnh nhân nhi:

Viên Tenofovir disoproxil fumarat không được khuyến cáo dùng cho trẻ em.

Dữ liệu lâm sàng sẵn có ở những thanh thiếu niên bị nhiễm HIV - 1 không đủ để hỗ trợ cho việc dùng Tenofovir disoproxil fumarat ở bệnh nhân nhi và hiện nay không có sẵn dữ liệu ở trẻ em nhỏ hơn.

Người lớn tuổi

Không có sẵn dữ liệu để đưa ra liều khuyến cáo cho những bệnh nhân trên 65 tuổi.

Suy thận

Viên kết hợp liều cố định tenofovir disoproxil fumarat 300 mg/ lamivudin 100 mg không khuyến cáo cho bệnh nhân suy thận mức độ trung bình hoặc nặng (độ thanh thải creatinine < 50 ml/ phút). Những bệnh nhận suy thận mức độ trung bình hoặc nặng mà không thể đạt được kết quả với liều thông thường của viên thuốc kết hợp, yêu cầu phải điều chỉnh khoảng cách liều dùng.

Suy gan

Việc điều chỉnh liều của viên kết hợp liều cố định tenofovir disoproxil fumarat 300 mg/ lamivudin 100 mg là không cần thiết đối với những bệnh nhân suy gan mức độ trung bình hoặc nặng trừ khi có kèm theo suy thận.

Lưu ý: Liều dùng trên chỉ mang tính chất tham khảo. Liều dùng cụ thể tùy thuộc vào thể trạng và mức độ diễn tiến của bệnh. Để có liều dùng phù hợp, bạn cần tham khảo ý kiến bác sĩ hoặc chuyên viên y tế.

Làm gì khi dùng quá liều?

Tenofovir disoproxil fumarat

Nếu quá liều xảy ra, bệnh nhân phải được theo dõi các dấu hiệu ngộ độc và áp dụng các biện pháp điều trị hỗ trợ chuẩn khi cần thiết.

Tenofovir có thể được loại bỏ bằng sự thẩm phân máu; độ thanh thải thẩm phân máu trung bình của tenofovir là 134 ml/ phút. Chưa được biết tenofovir có được loại bỏ bằng sự thẩm phân màng bụng hay không.

Lamivudin

Dùng lamivudin ở liều rất cao trong các nghiên cứu cấp tính ở động vật đã không gây bất cứ độc tính nào trên cơ quan. Các dữ liệu có sẵn trên hậu quả của việc hấp thu quá liều cấp ở người bị hạn chế. Không có sự tử vong xảy ra và bệnh nhân được hồi phục. Không có các dấu hiệu hoặc triệu chứng đặc biệt được xác định sau khi quá liều.

Nếu quá liều xảy ra bệnh nhân nên được theo dõi và được áp dụng các biện pháp điều trị hỗ trợ chuẩn khi cần thiết. Vì lamivudin có thể được thẩm tách, sự thẩm phân máu liên tục có thể được dùng trong điều trị quá liều, mặc dù điều này không được nghiên cứu.

Làm gì khi quên 1 liều?

Nếu bệnh nhân quên một liều viên kết hợp liều cố định Tenofovir disoproxil fumarat 300 mg/ Lamivudin 100 mg trong vòng 12 giờ, bệnh nhân nên uống viên kết hợp liều cố định Tenofovir disoproxil fumarat 300 mg/ Lamivudin 100 mg với thức ăn càng sớm càng tốt và lại tiếp tục dùng thuốc theo thời gian biểu bình thường của họ. Nếu bệnh nhân quên một liều viên kết hợp liều cố định Tenofovir disoproxil fumarat 300 mg/ Lamivudin 100 mg sau hơn 12 giờ và gần đến giờ cho liều kế tiếp, bệnh nhân nên bỏ liều đã quên và lại tiếp tục dùng thuốc theo thời gian biểu bình thường của họ.

Tác Dụng Phụ Của Tenolam

    Khi sử dụng thuốc TENOLAM, bạn có thể gặp các tác dụng không mong muốn (ADR).

    Lamivudin

    Các trường hợp nhiễm acid lactic, đôi khi gây chết, thựờng đi kèm với chứng phì đại gan nặng và chứng nhiễm mỡ ở gan, đã được ghi nhận khi dùng các đồng đẳng nucleosid.

    Tenofovir disoproxil fumarat

    Tóm tắt sơ lược về sự an toàn

    HIV - 1 và viêm gan B: ở những bệnh nhân đang dùng tenofovir disoproxil fumarat, suy thận, hư thận và bệnh ống lượn gần (kể cả hội chứng Fanconi) đôi khi dẫn đến các bất thường ở xương (hiếm khi góp phần vào việc gãy xương) hiếm khi được ghi nhận, cần theo dõi chức năng thận ở những bệnh nhân đang dùng viên tenofovir disoproxil fumarat.

    HIV - 1: Khoảng 1/ 3 số bệnh nhân có thể xảy ra các phản ứng không mong muốn sau khi điều trị bằng tenofovir disoproxil fumarat kết hợp với các thuốc kháng retrovirus khác. Các phản ứng này thường là các phản ứng về tiêu hóa nhẹ đến trung bình. Khoảng 1% số bệnh nhân được điều trị với tenofovir disoproxil fumarat đã ngừng điều trị do các vấn đề về tiêu hóa.

    Chứng nhiễm acid lactic, chứng gan to kèm theo nhiễm mỡ nặng và loạn dưỡng mỡ đi kèm với việc điều trị bằng tenofovir disoproxil fumarat.

    Việc dùng đồng thời tenofovir disoproxil fumarat và didanosine thì không được khuyến cáo vì điều này có thể dẫn đến tăng nguy cơ các phản ứng không mong muốn. Viêm tụy và chứng nhiễm acid lactic, đôi khi gây chết, đã được ghi nhận nhưng hiếm.

    Tóm tắt các phản ứng không mong muốn bằng bảng:

    Đánh giá các phản ứng không mong muốn của tenofovir disoproxil fumarat dựa trên các dữ liệu an toàn từ các nghiên cứu lâm sàng và thực nghiệm sau lưu hành thuốc. Tất cả các phản ứng không mong muốn được trình bày ở bảng 2.

    Các nghiên cứu lâm sàng HIV - 1: Việc đánh giá các phản ứng không mong muốn dựa trên thực nghiệm sau khi lưu hành thuốc và thực nghiệm trong 2 nghiên cứu trên 653 bệnh nhân đã từng điều trị đang được điều trị với tenofovir disoproxil fumarat (n = 443) hoặc giả dược (n = 210) trong kết hợp với các thuốc kháng retrovirus khác trong 24 tuần và cũng trong 1 nghiên cứu có kiểm soát so sánh mù đôi trên 600 bệnh nhân không có tiền sử điều trị kháng retrovirus được điều trị với tenofovir disoproxil 245 mg (như là fumarat) (n = 299) hoặc stavudin (n = 301) trong kết hợp với lamivudin và efavirenz trong 144 tuần.

    Các phản ứng không mong muốn sau được ghi nhận trong thời gian điều trị bệnh HIV với tenofovir disoproxil fumarat, lamivudin.

    Những phản ứng phụ nghi ngờ (ít khả năng nhất) có mối liên hệ với việc điều trị được liệt kê bên dưới theo hệ cơ quan và tần số xuất hiện tuyệt đối. Với mỗi nhóm tần số, các phản ứng không mong muốn được sắp xếp theo tính chất nghiêm trọng giảm dần. Tần số được xác định là rất thường gặp (> 1/ 10), thường gặp (> 1/ 100, < 1/ 10), không thường gặp (> 1/ 1000, < 1/ 100), hiếm gặp (> 1/ 10.000 < 1/ 1000) hay rất hiếm gặp (< 1/ 10.000) kể cả các báo cáo độc nhất, hoặc không được biết (được xác định thông qua việc khảo sát sự an toàn sau khi lưu hành và tần số không thể ước lượng được từ các dữ liệu sẵn có).

    Bảng 2: Tóm tắt các phản ứng không mong muốn bằng bảng do tenofovir disoproxil fumarat và lamivudin dựa trên nghiên cứu lâm sàng và thực nghiệm sau lưu hành thuốc.

    Tần số

    Tenofovir disoproxil fumarat

    Lamivudin

    Các rối loạn máu và hệ bạch huyết

    Thường gặp

       

    Không thường gặp

     

    Giảm bạch cầu trung tính và thiếu máu (đôi khi nặng), giảm lượng tiểu cầu

    Rất hiếm gặp:

     

    Bất sản hồng cầu tinh khiết

    Rối loạn chuyển hóa và dinh dưỡng

    Rất thường gặp

    Giảm phosphat huyết1

     

    Không thường gặp

    Giảm kali huyết1

     

    Hiếm gặp

    Nhiễm acid lactic3

     

    Các rối loạn hệ thần kinh

    Rất thường

    Chóng mặt

     

    Thường gặp

    Đau đầu

    Đau đầu, mất ngủ

    Rất hiếm gặp

     

    Bệnh thần kinh ngoại biên (hoặc chứng dị cảm)

    Rối loạn dạ dày ruột

    Rất thường gặp

    Tiêu chảy, buồn nôn, nôn

     

    Thường gặp

    Đau bụng, sự căng bụng, đầy hơi

    Buồn nôn, nôn, đau bụng hoặc vọp bẻ, tiêu chảy

    Không thường gặp

    Viêm tụy3

     

    Hiếm gặp

     

    Viêm tụy, tăng amylase huyết thanh

    Các rối loạn gan mật

    Thường gặp

    Tăng các transaminase

     

    Không thường gặp

     

    Tăng thoáng qua các enzym gan (AST, ALT)

    Hiếm gặp

    Chứng nhiễm mỡ ở gan3, viêm gan

    Viêm gan

    Các rối loạn ở da và mô dưới da

    Rất thường gặp

    Phát ban

     

    Thường gặp

     

    Phát ban, rụng tóc

    Hiếm gặp

    Phù mạch

    Phù mạch

    Các rối loạn cơ xương và mô liên kết

    Thường gặp

     

    Đau khớp, các rối loạn cơ

    Không thường gặp

    Globin cơ niệu kịch phát1, yếu cơ1

     

    Hiếm gặp

    Bệnh cơ1, chứng nhuyễn xương (được biểu hiện như đau xương và hiếm khi góp phần vào việc gãy xương)1, 2

    Globin cơ niệu kịch phát

    Rối loạn thận và tiết niệu:

    Không thường gặp

    Tăng creatinine

     

    Hiếm gặp

    Suy thận cấp, suy thận, hoại tử ống thận cấp, bệnh ống lượn gần (kể cả hội chứng Fanconi), Viêm thận (kể cả viêm thận kẽ cấp)2

     

    Rối loạn toàn thân và các tình trạng tại vị trí dùng thuốc:

    Rất thường gặp

    Suy nhược

     

    Thường gặp

    Mệt mỏi

    Mệt mỏi, tình trạng khó chịu, sốt

    1Các phản ứng không mong muốn này có thể xảy ra do hậu quả của bệnh ống lượn gần. Không được coi việc không có các tình trạng này là có liên quan tới tenofovir disoproxil fumarat.

    2Các phản ứng không mong muốn này được xác định thông qua việc khảo sát sau lưu hành thuốc nhưng không được quan sát trong các thử nghiệm lâm sàng ngẫu nhiên có kiểm soát. Loại tần số được ước lượng từ sự tính toán thống kê dựa trên tổng số bệnh nhân dùng tenofovir disoproxil fumarat trong các thử nghiệm lâm sàng ngẫu nhiên có kiểm soát (n = 7319).

    3Xem phần Mô tả các phản ứng không mong muốn được chọn lọc để biết thêm chi tiết.

    * Trong nghiên cứu 1100.1090, từ đa số các phản ứng không mong muốn (n = 28) nhận được, bệnh nhân nhóm giả dược đã có tỉ lệ mắc phải chứng giảm bạch cầu hạt huyết (3,3%) cao hơn những bệnh nhân nhóm nevirapine (2,5%).

    ** Các phản ứng không mong muốn này được xác định thông qua việc khảo sát sau lưu hành thuốc nhưng không được quan sát trong các nghiên cứu lâm sàng ngẫu nhiên có kiểm soát. Loại tần số được ước lượng từ sự tính toán thống kê dựa trên tổng số bệnh nhân dùng nevirapine trong các nghiên cứu lâm sàng ngẫu nhiên có kiểm soát (n = 2718).

    *** Các phản ứng không mong muốn này được quan sát trong các nghiên cứu lâm sàng với việc dùng đồng thời của tenofovir/ emtricitabine.

    Mô tả các phản ứng không mong muốn chọn lọc

    HIV - 1 và viêm gan B

    Suy thận: Vì viên kết hợp liều cố định tenofovir disoproxil fumarat 300 mg/ lamivudin 100 mg có thể gây tổn thương thận nên cần theo dõi chức năng thận.

    HIV - 1.

    Tương tác với didanosine: Việc dùng đồng thời viên kết hợp liều cố định tenofovir disoproxil fumarat 300 mg/ lamivudin 100 mg và didanosine không được khuyến cáo vì nó làm tăng 40 - 60% độ hấp thu toàn thân của didanosine mà có thể làm tăng nguy cơ các phản ứng không mong muốn liên quan đến didanosine. Viêm tụy và chứng nhiễm acid lactic, đôi khi gây chết, được ghi nhận nhưng hiếm.

    Các bất thường về chuyển hóa và loạn dưỡng mỡ: Trị liệu kháng retrovirus kết hợp gây ra những bất thường về chuyển hóa như tăng triglyceride huyết, tăng cholesterol huyết, đề kháng insulin, tăng glucose huyết và tăng lactat huyết.

    Trị liệu kháng retrovirus kết hợp gây phân bố lại mỡ trong cơ thể (loạn dưỡng mỡ) ở những bệnh nhân HIV kể cả giảm mỡ dưới da mặt và ngoại biên, tăng mỡ trong nội tạng và trong ổ bụng, phì đại vú và sự tích tụ mỡ ở sau gáy (bướu trâu).

    Trong 1 nghiên cứu lâm sàng có kiểm soát 144 tuần ở những bệnh nhân không có tiền sử điều trị kháng retrovirus, so sánh tenofovir disoproxil fumarat với stavudin trong kết hợp với lamivudin và efavirenz, bệnh nhân dùng tenofovir disoproxil có tỉ lệ mắc phải chứng loạn dưỡng mỡ thấp hơn có ý nghĩa so với những bệnh nhân dùng stavudin. Bệnh nhân dùng tenofovir disoproxil fumarat cũng có sự tăng triglyceride lúc đói và cholesterol tổng cộng trung bình ít hơn có ý nghĩa so với những bệnh nhân dùng stavudin.

    Hội chứng phục hồi miễn dịch: Ở những bệnh nhân nhiễm HIV bị suy giảm miễn dịch nặng vào thời điểm khởi đầu trị liệu kháng retrovirus kết hợp (CART), một phản ứng viêm có thể nảy sinh đối với những mầm bệnh có hay không có triệu chứng.

    Hoại tử xương: Các trường hợp hoại tử xương đã được ghi nhận, đặc biệt ở những bệnh nhân có các yếu tố nguy cơ đã được thừa nhận, bệnh HIV giai đoạn tiến triển hoặc dùng kháng retrovirus kết hợp thời gian dài. Tần số xuất hiện chưa được biết.

    Chứng nhiễm acid lactic và chứng phì đại gan nặng kèm theo nhiễm mỡ ở gan: Chứng nhiễm acid lactic, thường đi kèm với chứng nhiễm mỡ ở gan, đã được ghi nhận khi dùng các đồng đẳng nucleosid. Việc điều trị với các đồng đẳng nucleosid nên được ngừng trong trường hợp tăng lactat huyết có triệu chứng và chứng nhiễm acid lactic/ nhiễm acid chuyển hóa, chứng phì đại gan tiến triển, hoặc tăng nhanh nồng độ các aminotransferase.

    Nhóm bệnh nhân nhi: 

    Việc đánh giá các tác dụng ngoại ý dựa trên một thử nghiệm lâm sàng ngẫu nhiên (nghiên cứu GS - US - 104 - 0321) trên 87 bệnh nhân vị thành niên nhiễm HIV - 1 (tuổi từ 12 đến < 18) được điều trị bằng tenofovir disoproxil fumarat (n = 45) hoặc giả dược (n = 42) kết hợp với các thuốc kháng retrovirus khác trong 48 tuần.

    Các nhóm bệnh nhân đặc biệt khác

    Bệnh nhân lớn tuổi: Viên kết hợp liều cố định tenofovir disoproxil fumarat 300 mg/ lamivudin 100mg không được nghiên cứu ở những bệnh nhân trên 65 tuổi. Các bệnh nhân lớn tuổi có thể bị giảm chức năng thận nhiều hơn, do đó cần thận trọng khi điều trị với tenofovir disoproxil fumarat ở các bệnh nhân lớn tuổi.

    Các bệnh nhân suy thận: Vì tenofovir disoproxil fumarat có thể gây độc tính trên thận, cần theo dõi chặt chẽ chức năng thận ở bất kỳ bệnh nhân nào suy thận được điều trị với viên kết hợp liều cố định tenofovir disoproxil fumarat 300 mg/ lamivudin 100 mg.

    Hướng dẫn cách xử trí ADR

    Khi gặp tác dụng phụ của thuốc, cần ngưng sử dụng và thông báo cho bác sĩ hoặc đến cơ sở y tế gần nhất để được xử trí kịp thời.

Lưu Ý Của Tenolam

Trước khi sử dụng thuốc bạn cần đọc kỹ hướng dẫn sử dụng và tham khảo thông tin bên dưới.

Chống chỉ định:

Thuốc TENOLAM chống chỉ định trong các trường hợp sau:

  • Bệnh nhân được biết quá mẫn với tenofovir hoặc lamivudin.

Thận trọng khi sử dụng

Viên kết hợp liều cố định tenofovir disoproxil fumarat 300 mg/ lamivudin 100 mg không nên dùng cùng với bất kỳ thuốc nào khác có chứa tenofovir disoproxil fumarat hoặc lamivudin.

Bệnh nhân phải được thông báo rằng tenofovir disoproxil fumarat chưa được chứng minh là có thể ngăn ngừa được nguy cơ lây truyền HIV cho những người khác thông qua quan hệ tình dục hoặc nhiễm qua máu. Cần tiếp tục áp dụng những biện pháp phòng ngừa thích hợp.

Tenofovir disoproxil fumarat

Việc dùng đồng thời của các sản phẩm thuốc khác:

Viên tenofovir disoproxil fumarat không nên được dùng đồng thời với các chế phẩm thuốc khác có chứa tenofovir disoproxil fumarat.

Viên tenofovir disoproxil fumarat không nên được dùng đồng thời với adefovir dipivoxil.

Việc dùng đồng thời tenofovir disoproxil fumarat và didanosine không được khuyến cáo. Việc dùng đồng thời tenofovir disoproxil fumarat và didanosine làm tăng 40 - 60% độ hấp thu toàn thân của didanosine mà có thể làm tăng nguy cơ các phản ứng không mong muốn liên quan đến didanosine. Viêm tụy và chứng nhiễm acid lactic, đôi khi gây tử vong, được ghi nhận nhưng hiếm. Việc dùng đồng thời tenofovir disoproxil fumarat và didanosine ở liều 400 mg mỗi ngày làm giảm đáng kể số lượng tế bào CD4, có thể do sự tương tác nội bào làm tăng sự phosphoryl hóa didanosine. Đã có những báo cáo về tỉ lệ thất bại cao về virus học khi dùng liều 250 mg didanosine đồng thời với tenofovir disoproxil fumarat trong phạm vi một số phác đồ phối hợp thuốc được thử nghiệm để điều trị nhiễm HIV - 1.

Suy thận: Tenofovir được thải trừ chủ yếu qua thận. Suy thận, chức năng thận kém, tăng creatinine, hạ phosphat huyết và bệnh lý ở ống lượn gần (kể cả hội chứng Fanconi) đã được ghi nhận với việc dùng tenofovir disoproxil fumarat trong thực nghiệm lâm sàng.

Sự an toàn đối với thận của tenofovir chỉ được nghiên cứu ở một mức độ rất giới hạn ở những bệnh nhân suy chức năng thận (độ thanh thải creatinin < 80 ml/ phút).

Khuyến cáo nên đo lường độ thanh thải creatinine ở tất cả các bệnh nhân trước khi điều trị với tenofovir disoproxil fumarat và giám sát chức năng thận (độ thanh thải creatinin và phosphat huyết thanh) mỗi 4 tuần trong suốt 1 năm đầu điều trị, và sau đó là mỗi 3 tháng. Ở những bệnh nhân có nguy cơ suy thận, kể cả những bệnh nhân đã có những vấn đề về thận trước đó trong khi dùng adefovir dipivoxil, cần xem xét theo dõi chức năng thận thường xuyên hơn.

Những bệnh nhân có độ thanh thải creatinin < 50 ml/ phút, kể cả những bệnh nhân chạy thận nhân tạo: Những dữ liệu về sự an toàn và hiệu quả của tenofovir disoproxil fumarat bị giới hạn ở những bệnh nhân suy chức năng thận. Do đó, tenotovir disoproxil fumarat chỉ nên được dùng nếu những lợi ích của việc điều trị vượt hơn hẳn những nguy cơ có thể xảy ra. Không khuyến cáo dùng tenofovir ở những bệnh nhân suy thận nặng (độ thanh thải creatinin < 30 ml/ phút) và ở những bệnh nhân cần chạy thận nhân tạo. Nếu không có sẵn điều trị thay thế thì phải điều chỉnh khoảng cách giữa 2 lần dùng thuốc và nên theo dõi chặt chẽ chức năng thận.

Nếu phosphat huyết thanh nhỏ hơn 1,5 mg/ dl (0,48 mmol/ l) hoặc độ thanh thải creatinin bị giảm xuống dưới 50 ml/ phút, nên đánh giá lại chức năng thận trong vòng 1 tuần, bao gồm việc định lượng glucose huyết, kali huyết và nồng độ glucose trong nước tiểu, và nên điều chỉnh khoảng cách giữa 2 lần dùng thuốc tenofovir disoproxil fumarate. Nên xem xét tạm ngừng điều trị với tenofovir disoproxil fumarat ở những bệnh nhân có độ thanh  thải creatinin bị giảm xuống dưới 50 ml/ phút hoặc giảm phosphat huyết thanh xuống dưới 1 mg/ dl (0,32 mmol/ l).

Tránh dùng tenofovir disoproxil fumarat khi đang dùng hoặc vừa mới dùng một thuốc có độc tính trên thận (như aminoglycosides, amphotericin B, foscarnet, ganciclovir, pentamidine, vancomycin, cidofovir hoặc interleukin - 2). Nên theo dõi chức năng thận hàng tuần nếu việc dùng đồng thời tenofovir disoproxil fumarat và các thuốc có độc tính trên thận không thể tránh được.

Tenofovir disoproxil fumarat không được đánh giá lâm sàng ở những bệnh nhân đang dùng các thuốc mà được bài tiết bởi cùng con đường qua thận, kể cả bằng các protein vận chuyển anion hữu cơ người (hOAT) 1 và 3 hoặc MRP 4 (như adefovir dipivoxil; cidofovir, một thuốc có độc tính trên thận đã biết). Các protein vận chuyển ở thận này có thể chịu trách nhiệm cho sự bài tiết ở ống thận và một phần sự thải trừ ở thận của tenofovir, adefovir và cidofovir. Do đó, dược động học của những thuốc mà được bài tiết qua cùng một con đường ở thận kể cả bằng các protein vận chuyển hOAT 1 và 3 hoặc MRP có thể bị thay đổi nếu chúng được dùng đồng thời. Trừ khi thật cần thiết, không khuyến khích dùng đồng thời những thuốc này, nhưng nếu việc dùng đồng thời này không thể tránh được thì cần theo dõi chức năng thận hàng tuần.

Các tác động trên xương: Trong một nghiên cứu lâm sàng có kiểm soát 144 tuần so sánh tenofovir disoproxil furnarat với stavudin khi dùng kết hợp với lamivudin và efavirenz để điều trị cho những bệnh nhân lần đầu dùng thuốc kháng retrovirus, ở những bệnh nhân nhiễm HIV có sự giảm nhẹ mật độ chất khoáng trong xương hông và xương sống ở cả 2 nhóm điều trị. Sự giảm mật độ chất khoáng trong xương ở xương sống và những thay đổi trong chất đánh dấu sinh học ở xương từ trước khi điều trị lớn hơn đáng kể ở nhóm điều trị với tenofovir disoproxil fumarat ở tuần thứ 144. Sự giảm mật độ chất khoáng trong xương hông lớn hơn đáng kể ở nhóm này cho đến tuần thứ 96. Tuy nhiên, không có sự tăng nguy cơ gãy xương hay chứng cứ cho thấy các bất thường về xương liên quan đến lâm sàng trong suốt 144 tuần.

Các bất thường về xương (hiếm khi góp phần vào sự gãy xương) có thể kèm theo bệnh lý ống lượn gần. Nên hỏi ý kiến bác sĩ nếu nghi ngờ hoặc phát hiện các bất thường về xương.

Bệnh về gan: Các dữ liệu về sự an toàn và hiệu quả ở những bệnh nhân ghép gan rất hạn chế.

Các dữ liệu về sự an toàn và hiệu quả của tenofovir disoproxil fumarat ở những bệnh nhân bị nhiễm viêm gan siêu vi B có bệnh gan mất bù và có chỉ số Child - Pugh - Turcotte (CPT) lớn hơn 9 bị hạn chế. Những bệnh nhân này có thể có nguy cơ có các phản ứng không mong muốn nặng trên thận và gan cao hơn. Do đó, các thông số thận và gan mật nên được theo dõi chặt chẽ ở những bệnh nhân này.

Đợt cấp của viêm gan:

Sự bùng phát trong khi điều trị: Các đợt cấp tự phát của viêm gan B mãn tính là khá phổ biến và thường đặc trưng bởi sự tăng thoáng qua ALT huyết thanh. Sau khi trị liệu kháng virus bắt đầu, ALT huyết thanh có thể tăng ở một số bệnh nhân. Ở những bệnh nhân có bệnh gan bù, sự tăng ALT huyết thanh thường không đi kèm với sự tăng nồng độ bilirubin huyết thanh hoặc sự mất bù gan. Những bệnh nhân xơ gan có thể có nguy cơ mất bù gan cao hơn sau đợt cấp viêm gan, và do đó nên được theo dõi chặt chẽ suốt đợt điều trị.

Sự bùng phát sau khi ngừng điều trị: Đợt cấp viêm gan cũng đã được ghi nhận ở những bệnh nhân đã ngừng điều trị viêm gan B. Các đợt cấp sau điều trị thường đi kèm với việc tăng HBV DNA, và đa số xuất hiện hạn chế. Tuy nhiên, các đợt cấp nặng, kể cả tử vong đã được ghi nhận. Chức năng gan nên được giám sát định kỳ cả về lâm sàng và cận lâm sàng trong ít nhất 6 tháng sau khi ngừng điều trị viêm gan B. Nếu thích hợp, có thể bắt đầu lại việc điều trị viêm gan B. Ở những bệnh nhân xơ gan hoặc bệnh gan tiến triển, việc ngừng điều trị không được khuyến cáo vì đợt cấp của viêm gan sau điều trị có thể dẫn đến sự mất bù gan.

Sự bùng phát bệnh gan đặc biệt nghiêm trọng, và đôi khi gây tử vong ở những bệnh nhân có bệnh gan mất bù.

Nhiễm đồng thời viêm gan C hoặc D: Không có dữ liệu về hiệu quả của tenofovir ở những bệnh nhân nhiễm đồng thời viêm gan C hoặc D.

Nhiễm đồng thời HIV - 1 và viêm gan B: Do nguy cơ xuất hiện sự đề kháng của HIV, tenofovir disoproxil fumarat chỉ nên được dùng như một phần của chế độ điều trị kháng retrovirus kết hợp ở những bệnh nhân nhiễm đồng thời HIV và viêm gan siêu vi B. Những bệnh nhân đã có suy giảm chức năng gan trước đó kể cả viêm gan thể hoạt động mãn tính có sự tăng tần số xuất hiện các bất thường chức năng gan trong suốt thời gian điều trị kháng retrovirus kết hợp và nên được giám sát theo thực hành tiêu chuẩn. Nếu có chứng cứ cho thấy bệnh gan trở nên xấu hơn ở những bệnh nhân này, nên xem xét tạm ngừng hoặc ngừng việc điều trị. Tuy nhiên, nên chú ý rằng sự tăng men gan ALT có thể là một phần của sự thanh thải virus viêm gan B trong thời gian điều trị với tenofovir.

Lamivudin

Suy thận: ở những bệnh nhân suy thận trung bình đến nặng, thời gian bán hủy pha cuối trong huyết tương của lamivudin tăng do độ thanh thải giảm; vì thế cần điều chỉnh liều ở những bệnh nhân này.

Bệnh gan: Những bệnh nhân bị viêm gan B hoặc C mãn tính và được điều trị với trị liệu kháng retrovirus kết hợp sẽ tăng nguy cơ các phản ứng phụ trên gan nặng và có khả năng gây tử vong. Trong trường hợp trị liệu kháng virus đồng thời cho điều trị viêm gan B hoặc C, vui lòng tham khảo thông tin sản phẩm liên quan cho những thuốc này.

Nếu viên lamivudin không được tiếp tục dùng cho những bệnh nhân bị nhiễm đồng thời với viêm gan B, cần theo dõi định kỳ các xét nghiệm chức năng gan và các dấu hiệu của sự tái tạo virus viêm gan B, vì sự ngừng lamivudin có thể dẫn đến một đợt bộc phát cấp tính của viêm gan.

Ở những bệnh nhân bị suy giảm chức năng gan trước đó, kể cả viêm gan thể hoạt động mãn tính, đã có sự tăng tần số các bất thường chức năng gan trong thời gian trị liệu kháng retrovirus kết hợp, và nên được theo dõi theo thực hành chuẩn. Nếu có chứng cứ cho thấy bệnh gan trở nên xấu hơn ở những bệnh nhân này, nên xem xét tạm ngừng hoặc ngừng điều trị.

Sự an toàn và hiệu quả của viên kết hợp liều cố định tenofovir disoproxil fumarat 300 mg/ lamivudin 100 mg chưa được thiết lập ở những bệnh nhân có các rối loạn gan dưới mức ý nghĩa.

Chứng nhiễm acid lactic: Chứng nhiễm acid lactic, thường kèm với nhiễm mỡ ở gan, đã được ghi nhận khi dùng các thuốc đồng đẳng nucleosid. Các dữ liệu lâm sàng và tiền lâm sàng gợi ý rằng nguy cơ xảy ra chứng nhiễm acid lactic, một tác dụng ngoại ý chung của các đồng đẳng nucleosid, là thấp đối với tenofovir disoproxil fumarat. Tuy nhiên, vì tenofovir có cấu trúc liên quan đến các đồng đẳng nucleosid, nên nguy cơ này không thể loại trừ. Các triệu chứng sớm (tăng lactat huyết có triệu chứng) kể cả các triệu chứng tiêu hóa nhẹ (buồn nôn, nôn và đau bụng), mệt mỏi không đặc hiệu, và giảm sự thèm ăn, giảm cân, các triệu chứng hô hấp (thở nhanh và/ hoặc thở sâu) hoặc các triệu chứng thần kinh (kể cả kém vận động). Chứng nhiễm acid lactic có tỉ lệ tử vong cao và có thể đi kèm viêm tụy, suy gan hoặc suy thận. Chứng nhiễm acid lactic thường xảy ra sau một vài tháng hoặc nhiều tháng điều trị.

Nên ngừng điều trị bằng các đồng đẳng nucleosid nếu có sự tăng lactat huyết có triệu chứng và nhiễm acid lactic/ nhiễm acid chuyển hóa, chứng gan to tiến triển, hoặc sự tăng nhanh nồng độ aminotransferase.

Nên thận trọng khi dùng các đồng đẳng nucleosid cho bất kỳ bệnh nhân nào (đặc biệt là phụ nữ béo phì) có chứng gan to, viêm gan hoặc các yếu tố nguy cơ được biết khác về bệnh gan và chứng nhiễm mỡ ở gan (bao gồm cả một số thuốc nhất định và cồn). Những bệnh nhân bị nhiễm đồng thời với viêm gan C và được điều trị với alpha interferon và ribavirin có thể tạo thành một nguy cơ đặc biệt.

Những bệnh nhân có nguy cơ cao cần được theo dõi chặt chẽ.

Liệu pháp điều trị với 3 thuốc nucleosid: Tỉ lệ thất bại cao về virus học và sự xuất hiện kháng thuốc ở giai đoạn đầu đã được ghi nhận khi lamivudin được kết hợp với tenofovir disoproxil fumarat và abacavir cũng như với tenofovir disoproxil fumarat và didanosine khi dùng liều một lần mỗi ngày.

Nhiễm trùng cơ hội: Những bệnh nhân đang dùng viên kết hợp liều cố định tenofovir disoproxil fumarat 300 mg/ lamivudin 100 mg hay bất kỳ trị liệu kháng retrovirus nào khác đều có thể tiếp tục mắc các nhiễm trùng cơ hội và các biến chứng khác của bệnh nhiễm HIV, và vì thế nên tiếp tục được những thầy thuốc có kinh nghiệm trong điều trị những bệnh liên quan đến HIV theo dõi lâm sàng chặt chẽ.

Sự lây truyền HIV: Những bệnh nhân nên được khuyên rằng trị liệu kháng retrovirus hiện tại, kể cả viên kết hợp liều cố định tenofovir disoproxil fumarat 300 mg/ lamivudin 100 mg, không được chứng minh là ngăn ngừa được nguy cơ lây truyền HIV cho những người khác thông qua quan hệ tình dục hay sự nhiễm qua máu. Các biện pháp phòng ngừa thích hợp vẫn nên tiếp tục thực hiện.

Viêm tụy: Hiếm xảy ra các trường hợp viêm tụy. Nên ngừng ngay việc điều trị với viên kết hợp liều cố định renofovir disoproxil fumarat 300 mg/ lamivudin 100 mg nếu thấy xuất hiện các dấu hiệu, triệu chứng lâm sàng hay các bất thường cận lâm sàng gợi ý viêm tụy xảy ra.

Loạn chức năng ty lạp thể: Các đồng đẳng nucleosid và nucleotide đã được chứng minh trên in vitro và in vivo là gây ra sự phá hủy ty lạp thể ở mức độ khác nhau. Có những báo cáo của sự loạn chức năng ty lạp thể ở những trẻ sơ sinh âm tính với HIV đã phơi nhiễm trong tử cung và/ hoặc sau sinh với các đồng đẳng nucleosid. Các phản ứng phụ chính yếu đã được ghi nhận là các rối loạn về huyết học (thiếu máu, giảm bạch cầu trung tính), rối loạn chuyển hóa (tăng lactat huyết, tăng lipid huyết). Các phản ứng phụ này thường là thoáng qua. Một số rối loạn thần kinh bùng phát muộn đã được ghi nhận (tăng trương lực, co giật, hành vi bất thường). Các rối loạn thần kinh là thoáng qua hay vĩnh viễn hiện tại chưa được biết. Bất kỳ đứa trẻ nào đã phơi nhiễm trong tử cung với các đồng đẳng nucleosid và nucleotide, ngay cả những đứa trẻ âm tính với HIV, nên được theo dõi về lâm sàng và cận lâm sàng và nên được kiểm tra đầy đủ do loạn chức năng ty lạp thể có thể xảy ra trong trường hợp các dấu hiệu hoặc các triệu chứng liên quan xảy ra. Các phát hiện này không ảnh hưởng đến sự khuyến cáo hiện tại dùng trị liệu retrovirus ở phụ nữ mang thai để ngăn ngừa sự lây truyền dọc HIV.

Loạn dưỡng mỡ: ở những bệnh nhân HIV trị liệu kháng retrovirus kết hợp có sự phân bố lại mỡ trong cơ thể (loạn dưỡng mỡ). Hậu quả lâu dài của những trường hợp này hiện tại chưa được biết. Sự hiểu biết về cơ chế thì không đầy đủ. Có giả thuyết cho rằng có sự liên quan giữa bệnh u mỡ nội tạng với các chất ức chế protease và sự loạn dưỡng mỡ với các chất ức chế men sao chép ngược nucleosid. Nguy cơ cao hơn của sự loạn dưỡng mỡ được đi kèm với các yếu tố cá nhân như lớn tuổi, và các yếu tố liên quan đến thuốc như thời gian điều trị với thuốc kháng retrovirus dài hơn và có rối loạn chuyển hóa đi kèm. Nên kiểm tra lâm sàng kể cả việc đánh giá các dấu hiệu thể chất của sự phân bố lại mỡ. Nên đo lipid huyết thanh và glucose huyết lúc đói. Các rối loạn về mỡ cần được điều trị lâm sàng phù hợp.

Hội chứng phục hồi miễn dịch: ở những bệnh nhân nhiễm HIV bị suy giảm miễn dịch nặng vào thời điểm khởi đầu trị liệu kháng retrovirus kết hợp (CART), một phản ứng viêm đối với các tác nhân gây bệnh cơ hội có hoặc không có triệu chứng có thể nảy sinh và gây những tình trạng lâm sàng nguy hiểm, hoặc làm trầm trọng thêm triệu chứng bệnh. Các phản ứng tiêu biểu như thế đã được quan sát thấy trong vài tuần hoặc vài tháng đầu của trị liệu kháng retrovirus kết hợp. Các ví dụ liên quan là viêm võng mạc virus cự bào, nhiễm trùng toàn thân và/ hoặc sự nhiễm trùng do mycobacterium, và viêm phổi do Pneumocystis jirovecii. Bất kỳ triệu chứng viêm nào cũng nên được đánh giá và điều trị khi cần thiết.

Hoại tử xương: Mặc dù khoa nghiên cứu nguyên nhân bệnh đã xem xét đến nhiều yếu tố (kể cả việc dùng corticosteroid, uống rượu, ức chế miễn dịch nặng, chỉ số khối cơ thể cao), các trường hợp hoại tử xương đã được ghi nhận đặc biệt ở những bệnh nhân bị bệnh HIV trước đó và/ hoặc dùng trị liệu kháng retrovirus kết hợp thời gian dài (CART). Nên khuyên bệnh nhân gặp thầy thuốc nếu họ bị đau và nhức khớp, cứng khớp hoặc khó khăn trong việc di chuyển.

Người lớn tuổi: Viên kết hợp liều cố định tenofovir disoproxil fumarat 300 mg/ lamivudin 100 mg không được nghiên cứu ở những bệnh nhân trên 65 tuổi. Những bệnh nhân lớn tuổi có thể có chức năng thận giảm nhiều hơn; do đó cần thận trọng khi điều trị cho những bệnh nhân lớn tuổi bằng tenofovir disoproxil fumarat.

Khả năng lái xe và vận hành máy móc

Không có các nghiên cứu về tác động của thuốc lên khả năng lái xe hay việc sử dụng máy móc được thực hiện với viên kết hợp liều cố định tenofovir disoproxil fumarat 300 mg/ lamivudin 100 mg. Bệnh nhân nên được thông báo rằng chóng mặt đã được ghi nhận trong thời gian điều trị với tenofovir disoproxil fumarat.

Thời kỳ mang thai 

Tenofovir disoproxil fumarat

Một lượng dữ liệu trung bình trên phụ nữ mang thai (khoảng từ 300 - 1000 kết quả mang thai) chỉ ra không có các dị tật hoặc các độc tính trên bào thai/ trẻ sơ sinh do tenofovir disoproxil fumarat. Các nghiên cứu trên động vật không chỉ ra các độc tính trên khả năng sinh sản. Việc dùng tenofovir disoproxil fumarat có thể được xem xét trong thai kỳ nếu cần thiết.

Khả năng sinh sản

Các dữ liệu lâm sàng về mặt tác động của tenofovir disoproxil fumarat trên khả năng sinh sản còn hạn chế. Các nghiên cứu trên động vật không chỉ ra tác động có hại của tenofovir disoproxil fumarat trên khả năng sinh sản.

Lamivudin

Một lượng dữ liệu lớn trên phụ nữ mang thai (hơn 1000 kết quả phơi nhiễm) chỉ ra không có các độc tính gây dị tật. Viên Lamivudin có thể được dùng suốt thai kỳ nếu thấy cần thiết.

Đối với những bệnh nhân bị nhiễm đồng thời với viêm gan mà đang điều trị với lamivudin và rồi sau đó mang thai, nên xem xét khả năng tái phát của viêm gan khi ngừng lamivudin.

Loạn chức năng ty lạp thể: Các đồng đẳng nucleosid và nucleotide đã được chứng minh trên in vitro và in vivo là gây ra sự phá hủy ty lạp thể ở mức độ khác nhau. Có những báo cáo của sự loạn chức năng ty lạp thể ở những trẻ sơ sinh đã phơi nhiễm trong tử cung và/ hoặc sau sinh với các đồng đẳng nucleosid.

Thời kỳ cho con bú

Tenofovir disoproxil fumarat

Tenofovir được bài tiết vào sữa người. Không đủ thông tin về các tác động của tenofovir trên trẻ sơ sinh/ nhũ nhi. Do đó viên tenofovir disoproxil fumarat không nên dùng trong thời gian cho con bú.

Theo nguyên tắc chung, những phụ nữ bị nhiễm HIV và viêm gan siêu vi B được khuyến cáo không cho con bú để tránh lây truyền HIV và viêm gan siêu vi B cho con.

Lamivudin

Sau khi dùng đường uống, lamivudin được bài tiết vào sữa ở nồng độ tương đương với nồng độ trong huyết thanh. Vì lamivudin và virus chuyển qua sữa nên người mẹ đang dùng viên lamivudin được khuyến cáo không cho con bú. Người mẹ nhiễm HIV được khuyến cáo không cho con bú trong bất kỳ hoàn cảnh nào để tránh lây truyền HlV cho con.

Tương tác thuốc

Các nghiên cứu về tương tác chỉ được thực hiện ở người lớn.

Tenofovir disoproxil fumarat

Dựa trên kết quả thực nghiệm in vitro và con đường thải trừ được biết của tenofovir. Khả năng tương tác qua trung gian CYP450 của tenofovir với các thuốc khác là thấp.

Việc dùng đồng thời không được khuyến cáo:

Viên tenofovir disoproxil fumarat không nên được dùng đồng thời với các thuốc khác có chứa tenofovir disoproxil fumarat.

Viên tenofovir disoproxil fumarat không nên được dùng đồng thời với adefovir dipivoxil.

Didanosine: Dùng đồng thời tenofovir disoproxil fumarat và didanosine không được khuyến cáo.

Các thuốc được thải trừ qua thận: Vì tenofovir được thải trừ chủ yếu qua thận, việc dùng đồng thời tenofovir disoproxil fumarat với các thuốc mà làm giảm chức năng thận hoặc cạnh tranh sự bài tiết chủ động qua ống thận thông qua các protein vận chuyển hOAT 1, hOAT 3 hoặc MRP 4 (như cidofovir) có thể làm tăng nồng độ trong huyết thanh của tenotovir và/ hoặc các thuốc dùng chung.

Tránh dùng tenofovir disoproxil fumarat khi đang dùng hoặc vừa mới dùng một thuốc có độc tính trên thận. Một số ví dụ gồm, nhưng không bị giới hạn, aminoglycosides, amphotericin B, foscarnet, ganciclovir, pentamidine, vancomycin, cidofovir hoặc interleukin - 2.

Vì tacrolimus có thể ảnh hưởng đến chức năng thận, cần theo dõi chặt chẽ khi dùng đồng thời thuốc này với tenofovir disoproxil fumarat.

Các tương tác khác: Các tương tác giữa tenofovir disoproxil fumarat và các thuốc ức chế protease và các tác nhân kháng retrovirus khác với các thuốc ức chế protease được liệt kê trong bảng 1 bên dưới (sự tăng được chỉ bởi dấu “↑”, sự giảm được chỉ bởi dấu “↓”, không thay đổi được chỉ bởi dấu “↔”, 2 lần mỗi ngày được chỉ bằng chữ “b.i.d.”, và 1 lần mỗi ngày được chì bằng chữ “q.d.”).

Bảng 1: Sự tương tác giữa tenofovir disoproxil fumarat và các thuốc khác

Thuốc theo nhóm trị liệu
(liều (mg))

Các tác động trên nồng độ thuốc
Thay đổi trong AUC, Cmax, Cmin (% trung bình)

Khuyến cáo liên quan đến việc dùng đồng thời với tenofovir disoproxil fumarat 300 mg

KHÁNG VIÊM

Kháng retrovirus

Các thuốc ức chế Protease

Atazanavir/  Ritonavir (300 mg 1 lần mỗi ngày/ 100 mg 1 lần mỗi ngày/ 300 mg 1 lần mỗi ngày)

Atazanavir:

Không cần điều chỉnh liều. Độ hấp thu của tenofovir tăng có thể làm tăng các phản ứng phụ liên quan đến tenofovir, kể cả các rối loạn ở thận. Nên theo dõi chặt chẽ chức năng thận.

AUC: ↓ 25%

Cmax: ↓ 28%

Cmin: ↓ 26%

Tenofovir:

AUC: ↑ 37%

Cmax: ↑ 34%

Cmin: ↑ 29%

Lopinavir/ Ritonavir (400 mg 2 lần mỗi ngày/ 100 mg 2 lần mỗi ngày/ 300 mg 1 lần mỗi ngày)

Lopinavir/ Ritonavir:
Tác động không có ý nghĩa trên các thông số dược động học của Lopinavir/ Ritonavir.
Tenofovir:
AUC: ↑ 32%
Cmax: ↔
Cmin: ↑ 51%

Không cần điều chỉnh liều. Độ hấp thu của tenofovir tăng có thể làm tăng các phản ứng phụ liên quan đến tenofovir, kể cả các rối loạn ở thận. Nên theo dõi chặt chẽ chức năng thận.

Darunavir/ Ritonavir:
(300/ 100mg 2 lần mỗi ngày/ 300 mg 1 lần mỗi ngày)

Darunavir:
Tác động không có ý nghĩa trên các thông số dược động học của darunavir/ ritonavir.
Tenofovir:
AUC: ↑ 22%
Cmax: ↑ 37%

Không cần điều chỉnh liều. Độ hấp thu của tenofovir tăng có thể làm tăng các phản ứng phụ liên quan đến tenofovir, kể cả các rối loạn ở thận. Nên theo dõi chặt chẽ chức năng thận.

THUỐC ỨC CHẾ SAO CHÉP NGƯỢC NUCLEOSID (NRTI)

Didanosine

Việc dùng đồng thời tenofovir disoproxil fumarat và didanosine làm tăng 40 - 60% độ hấp thu toàn thân của didanosine mà có thể làm tăng nguy cơ các phản ứng không mong muốn liên quan đến didanosine. Viêm tụy và chứng nhiễm acid lactic, đôi khi gây chết, đã được ghi nhận nhưng hiếm. Việc dùng đồng thời tenofovir disoproxil fumarat và didanosine ở liều 400 mg mỗi ngày làm giảm có ý nghĩa số lượng tế bào CD4, có thể do tương tác nội bào làm tăng phosphoryl hóa didanosine. Đã có những báo cáo về tỉ lệ thất bại cao về virus học khi didanosine liều 250 mg được dùng đồng thời với tenofovir disoproxil fumarat.

Việc dùng đồng thời tenofovir disoproxil fumarat và didariosine không được khuyến cáo.

Adefovir dipivoxil

AUC: ↔
Cmax: ↔

Tenofovir disoproxil fumarat không nên được dùng đồng thời với adefovir dipivoxil.

Entecavir

AUC: ↔
Cmax: ↔

Không có những tương tác dược động học có ý nghĩa lâm sàng khi tenofovir disọproxil fumarat được dùng đồng thời với entecavir.

Các nghiên cứu được thực hiện với các thuốc khác: Không có những tương tác dược động học có ý nghĩa lâm sàng khi tenofovir disoproxil fumarat được dùng đồng thời với emtricitabine, lamivudin, indinavir, efavirenz, nelfinavir, saquinavir, methadone, ribavirin, rifampicin, tacrolimus, hoặc thuốc tránh thai hormon norgestimate/ ethinyl oestradiol.

Tenofovir disoproxil fumarat phải được uống với thức ăn vì thức ăn làm tăng sinh khả dụng của tenofovir. 

Lamivudin

Các nghiên cứu về tương tác chỉ được thực hiện ở người lớn.

Không khuyến cáo dùng đồng thời lamivudin với ganciclovir hoặc foscarnet đường tĩnh mạch.

Khả năng có tương tác trong chuyển hóa thấp do mức độ chuyển hóa và sự gắn kết với protein huyết tương là thấp và hầu hết thải trừ qua thận.

Việc dùng trimethoprim/ sulfamethoxazol 160 mg/ 800 mg dẫn đến tăng 40% độ hấp thu của lamivudin, do thành phần trimethoprim; thành phần sulfamethoxazol không tương tác. Tuy nhiên, trừ khi bệnh nhân suy thận, không cần thiết phải điều chỉnh liều của lamivudin. Lamivudin không ảnh hưởng lên dược động học của trimethoprim hay sulfamethoxazol. Khi việc dùng đồng thời là xác đáng, bệnh nhân nên được theo dõi lâm sàng. Nên tránh dùng đồng thời lamivudin với các liều cao của co - trimoxazol để điều trị viêm phổi do Pneumocystis carinii và bệnh do toxoplasma.

Nên xem xét khả năng tương tác với các thuốc khác khi dùng đồng thời, đặc biệt khi đường thải trừ chính của những thuốc này được bài tiết chủ động qua thận thông qua hệ thống vận chuyển cation hữu cơ như trimethoprim. Các thuốc khác (như ranitidin, cimetidin) được thải trừ chỉ một phần theo cơ chế này và đã cho thấy không tương tác với lamivudin. Các đồng đẳng nucleosid (như didanosin) giống như zidovudin không được thải trừ bằng cơ chế này và không thể xảy ra tương tác với lamivudin.

Nồng độ Cmax (28%) của zidovudin tăng vừa phải khi dùng kết hợp với lamivudin, tuy nhiên mức độ hấp thu toàn thân (AUC) thì không thay đổi đáng kể. Zidovudin không ảnh hưởng lên dược động học của lamivudin. Sự chuyển hóa của lamivudin không liên quan đến CYP3A, sự tương tác với các thuốc được chuyển hóa bởi hệ thống này (như các thuốc ức chế protease) là không thể xảy ra.

Bảo Quản

Bảo quản ở nơi khô mát, dưới 30°C. Tránh ánh sáng.

Nguồn Tham Khảo

Tờ Hướng dẫn sử dụng thuốc TENOLAM.

Câu Hỏi Thường Gặp
Tên các nhóm thuốc kháng sinh là gì?
Mời bạn viết bình luận. (Tối thiểu 3 ký tự)
GỬI BÌNH LUẬN

Hãy là người đầu tiên bình luận sản phẩm này

GỬI BÌNH LUẬN

Đánh Giá & Nhận Xét

Đánh Giá Trung Bình
-/5
0 đánh giá
5
0
4
0
3
0
2
0
1
0

Bạn đã dùng sản phẩm này?

GỬI ĐÁNH GIÁ

Chưa có đánh giá nào cho sản phẩm này

GỬI ĐÁNH GIÁ
LIÊN HỆ TƯ VẤN TÌM NHÀ THUỐC