Chuyên mục COVID-19 Chăm sóc sức khoẻ F0 tại nhà Hướng dẫn Chăm sóc F0 tại nhà - COVID-19 Xem hướng dẫn

Viêm thận kẽ là gì? Nguyên nhân gây bệnh, phương pháp điều trị và nguyên tắc phòng ngừa

Thứ Hai ngày 26/03/2018
Viêm thận kẽ là tổn thương ở ống thận và các vách ngăn dẫn đến giảm chức năng thận. Dạng cấp tính thường là do phản ứng dị ứng thuốc hoặc nhiễm trùng. Dạng mãn tính có nhiều nguyên nhân khác nhau, bao gồm rối loạn di truyền hoặc chuyển hóa, bệnh u bướu tắc nghẽn và tiếp xúc mãn tính với chất độc môi trường hoặc với một số loại thuốc và dược liệu.

Tìm hiểu chung

Viêm thận kẽ là gì? 

Viêm thận kẽ (còn gọi là viêm thận ống kẽ) là một dạng viêm thận ảnh hưởng đến mô kẽ xung quanh ống thận. 

Phân loại:

Theo tình trạng diễn biến của bệnh:

  • Viêm thận kẽ cấp tính (ATIN). 

  • Viêm thận kẽ mạn tính (CTIN). 

Theo nguyên nhân gây bệnh:

  • Viêm thận kẽ do vi khuẩn (viêm thận - bể thận).

  • Viêm thận kẽ không do vi khuẩn (do nhiễm độc hoặc rối loạn chuyển hóa). 

Chẩn đoán được gợi ý qua bệnh sử, phân tích nước tiểu và thường được xác nhận bằng sinh thiết. Điều trị và tiên lượng khác nhau tùy theo căn nguyên và khả năng hồi phục của bệnh lý tại thời điểm chẩn đoán.


Triệu chứng thường gặp

Những dấu hiệu và triệu chứng của viêm thận kẽ

Viêm thận kẽ cấp tính

Các triệu chứng và dấu hiệu của viêm thận kẽ cấp tính (ATIN) có thể không đặc hiệu và thường không xuất hiện trừ khi các triệu chứng và dấu hiệu của suy thận phát triển. Nhiều bệnh nhân bị đa niệu và tiểu đêm (do khiếm khuyết về khả năng cô đặc nước tiểu và tái hấp thu natri).

Triệu chứng ATIN khởi phát và có thể kéo dài vài tuần sau khi tiếp xúc với chất độc hoặc sớm nhất là 3 - 5 ngày sau lần tiếp xúc thứ hai; thời gian tiềm tàng từ 1 ngày với rifampin đến 18 tháng với thuốc chống viêm không steroid (NSAID). 

Sốt và nổi mày đay là những biểu hiện ban đầu đặc trưng của ATIN do thuốc. Sốt, phát ban và tăng bạch cầu ái toan xuất hiện ở < 10% bệnh nhân ATIN do thuốc. Đau bụng, sụt cân, to thận hai bên (do phù kẽ thận) cũng có thể xảy ra và kèm theo sốt có thể nhầm lẫn với ung thư thận hoặc bệnh thận đa nang. Phù ngoại vi và tăng huyết áp không phổ biến trừ khi bị suy thận.

Viêm thận mô kẽ mãn tính

Các triệu chứng và dấu hiệu thường không xuất hiện khi mắc viêm thận kẽ mãn tính trừ khi suy thận phát triển. Thường không xuất hiện phù và huyết áp vẫn bình thường hoặc chỉ tăng nhẹ trong giai đoạn đầu. Bệnh nhân có thể bị đa niệu và tiểu đêm.

Biến chứng có thể gặp khi mắc bệnh viêm thận kẽ

Viêm thận kẽ cấp tính

Chức năng thận thường hồi phục trong vòng 6 - 8 tuần sau khi ngừng thuốc được cho là nguyên nhân gây bệnh, thường để lại sẹo. Một số trường hợp bệnh nhân hồi phục không hoàn toàn và nồng độ các sản phẩm chuyển hóa nitơ trong máu tăng. Viêm thận kẽ do NSAIDs thường có tiên lượng xấu hơn. Các tổn thương này thường hồi phục nếu tìm và loại bỏ được nguyên nhân. Tuy nhiên, một số trường hợp nặng có thể tiến triển dẫn đến xơ hóa thận và bệnh thận mạn tính. Tổn thương có nguy cơ cao không thể đảo ngược nếu có các dấu hiệu:

  • Xâm nhập khoảng kẽ lan tỏa;

  • Xơ hóa khoảng kẽ nặng;

  • Chậm đáp ứng với prednisone;

  • Tổn thương thận cấp kéo dài > 3 tuần.

Viêm thận ống kẽ thận mạn tính

Tiên lượng phụ thuộc vào nguyên nhân, khả năng phát hiện và điều trị ngăn chặn trước khi xuất hiện xơ hóa không hồi phục. Nhiều nguyên nhân di truyền (như bệnh nang thận), chuyển hóa (bệnh thận do cystin) và độc tố (ví dụ kim loại nặng) có thể không điều trị được. Trường hợp này, viêm thận kẽ mạn tính thường tiến triển đến bệnh thận giai đoạn cuối.

Khi nào cần gặp bác sĩ?

Nếu có bất kỳ triệu chứng nào nêu trên xảy ra, bạn nên liên hệ ngay với bác sĩ để được kiểm tra và tư vấn. Chẩn đoán và điều trị sớm sẽ giảm nguy cơ tăng nặng của bệnh và giúp bạn mau chóng hồi phục sức khỏe.


Nguyên nhân gây bệnh

Nguyên nhân dẫn đến viêm thận kẽ

Viêm thận kẽ có thể là nguyên phát, hoặc thứ phát do tổn thương cầu thận hoặc rối loạn mạch máu.

Viêm thận mô kẽ nguyên phát có thể là:

  • Cấp tính; 

  • Mãn tính.

Viêm thận kẽ cấp tính (ATIN)

Viêm thận kẽ cấp tính (ATIN) liên quan đến tình trạng thâm nhiễm viêm và phù nề ảnh hưởng đến các kẽ thận thường phát triển trong nhiều ngày đến vài tháng. Hơn 95% trường hợp là do nhiễm trùng hoặc phản ứng dị ứng thuốc.

ATIN gây chấn thương thận cấp tính; trường hợp nghiêm trọng, điều trị chậm trễ hoặc tiếp tục sử dụng thuốc nghi ngờ là nguyên nhân có thể dẫn đến tổn thương vĩnh viễn và bệnh thận mãn tính.

Hội chứng thận - mắt, viêm thận kẽ cấp tính cộng với viêm màng bồ đào, cũng xảy ra và là vô căn.

Viêm thận kẽ mãn tính (CTIN)

Viêm thận kẽ mãn tính (CTIN) phát sinh khi các tổn thương ở ống thận mãn tính gây ra thâm nhiễm và xơ hóa mô kẽ dần dần, teo và rối loạn chức năng ống thận, và suy giảm dần chức năng thận, thường là trong nhiều năm. Sự tham gia đồng thời của cầu thận (xơ vữa cầu thận) thường gặp ở CTIN hơn nhiều so với ATIN.

Nguyên nhân của viêm thận kẽ mãn tính có rất nhiều; gồm các rối loạn qua trung gian miễn dịch, nhiễm trùng, trào ngược hoặc bệnh thận tắc nghẽn, thuốc và các rối loạn khác. CTIN do độc tố, rối loạn chuyển hóa, tăng huyết áp, và rối loạn di truyền dẫn đến bệnh xảy ra ở cả hai bên thận, khi CTIN do các nguyên nhân khác, sẹo ở thận có thể không bằng nhau và chỉ liên quan đến một thận. Một số dạng CTIN nổi bật bao gồm:

  • Bệnh thận do thuốc giảm đau;

  • Bệnh thận chuyển hóa;

  • Bệnh thận do kim loại nặng;

  • Bệnh thận trào ngược;

  • U tủy thận.

Bệnh thận trào ngược và u tủy có thể gây tổn thương mô ống tuỷ nhưng bệnh lý chủ yếu trong những bệnh lý này là bệnh cầu thận.


Nguy cơ mắc phải

Những ai có nguy cơ mắc phải viêm thận kẽ?

Bệnh này có thể xuất hiện ở bất kỳ lứa tuổi hay giới tính nào nhưng người càng lớn tuổi thì nguy cơ mắc bệnh này càng cao. Bệnh viêm thận kẽ cấp tính có mối quan hệ mật thiết với bệnh suy thận, theo thống kê chiếm khoảng 15% số ca suy thận. 

Yếu tố làm tăng nguy cơ mắc phải viêm thận kẽ

Một số yếu tố làm tăng nguy cơ mắc viêm thận kẽ, bao gồm:

Trẻ em: Có tiền sử hoặc đang mắc các bệnh nhiễm trùng.

Người lớn: Không dùng thuốc theo đúng hướng dẫn của các bác sĩ hoặc không khai báo với bác sĩ về những dấu hiệu bất thường xảy ra. 


Phương pháp chẩn đoán và điều trị

Phương pháp xét nghiệm và chẩn đoán viêm thận kẽ

Viêm thận kẽ cấp tính

Phân tích nước tiểu cho thấy các dấu hiệu của viêm thận đang hoạt động (cặn nước tiểu tích cực), có các tế bào hồng cầu (RBC), bạch cầu (WBC), và phôi bạch cầu, và không có vi khuẩn trên môi trường nuôi cấy (nước tiểu vô khuẩn).

Không thường gặp đái máu rõ rệt và rối loạn hồng cầu. Bạch cầu ái toan niệu được cho là gợi ý ATIN; tuy nhiên, sự hiện diện hay không có bạch cầu ái toan trong nước tiểu không đặc biệt hữu ích về mặt chẩn đoán. Protein niệu thường ở mức tối thiểu nhưng có thể đạt đến mức thận hư với bệnh cầu thận kết hợp ATIN gây ra bởi NSAID, ampicillin, rifampin, interferon alfa hoặc ranitidine.

Xét nghiệm máu phát hiện rối loạn chức năng ống thận bao gồm hạ kali máu (do khiếm khuyết trong tái hấp thu kali) và nhiễm toan chuyển hóa khoảng trống non-anion (do khiếm khuyết trong tái hấp thu bicarbonat ở ống gần hoặc trong bài tiết acid ở ống thận xa).

Có thể cần siêu âm, quét hạt nhân phóng xạ, hoặc cả hai để phân biệt viêm thận kẽ cấp tính với các nguyên nhân khác của chấn thương thận cấp khi không thể sinh thiết thận.

Trong ATIN, siêu âm có thể cho thấy thận to ra rất nhiều và có âm vang vì các tế bào viêm mô kẽ và phù nề. Chụp quét hạt nhân phóng xạ có thể cho thấy thận đang hấp thụ rất nhiều chất phóng xạ gali-67 hoặc các tế bào bạch cầu được đánh dấu hạt nhân phóng xạ (WBCs). Kết quả quét dương tính gợi ý nhiều đến ATIN (và chỉ ra rằng khả năng hoại tử ống thận cấp tính ít hơn), nhưng kết quả quét âm tính không loại trừ ATIN.

Sinh thiết thận thường được dành cho những bệnh nhân sau:

  • Chẩn đoán không chắc chắn;

  • Tổn thương thận tiến triển;

  • Không cải thiện sau khi ngừng các loại thuốc nghi ngờ gây bệnh; 

  • Phát hiện cho thấy bệnh sớm;

  • ATIN do thuốc gây ra mà liệu pháp corticosteroid đang được xem xét.

Trong viêm thận kẽ cấp, các cầu thận thường bình thường. Phát hiện sớm nhất là phù mô kẽ, điển hình sau đó là thâm nhiễm mô kẽ với tế bào lympho, tế bào huyết tương, bạch cầu ái toan và một số ít bạch cầu đa nhân.

Trong một số trường hợp nghiêm trọng, có thể thấy các tế bào viêm xâm lấn vào khoảng trống giữa các tế bào lót màng đáy ống (viêm tubulitis). =

Trong các mẫu xét nghiệm khác, có thể thấy các phản ứng tạo u hạt do tiếp xúc với kháng sinh beta-lactam, sulfonamide, vi khuẩn mycobacteria hoặc nấm. Sự hiện diện của u hạt không tăng sinh gợi ý bệnh sarcoidosis. Miễn dịch huỳnh quang hoặc kính hiển vi điện tử hiếm khi tiết lộ bất kỳ thay đổi bệnh lý nào. 

Viêm thận mô kẽ mãn tính

Kết quả về CTIN nhìn chung tương tự như kết quả của ATIN, mặc dù không phổ biến. Bởi vì CTIN tiềm ẩn trong giai đoạn khởi phát và phổ biến là xơ hóa mô kẽ, các xét nghiệm hình ảnh có thể cho thấy thận nhỏ với bằng chứng sẹo và không đối xứng.

Trong viêm thận kẽ mãn tính, sinh thiết thận thường không được thực hiện cho mục đích chẩn đoán. Tuy nhiên, nếu có lo ngại về các chẩn đoán thay thế, có thể chỉ định thực hiện. Cầu thận thay đổi từ bình thường đến bị phá hủy hoàn toàn.

Các ống có thể không có hoặc bị teo. Máng đèn hình ống có đường kính khác nhau nhưng có thể cho thấy sự giãn nở rõ rệt, với các phôi đồng nhất. Các kẽ chứa các tế bào viêm và xơ ở các mức độ khác nhau. Các khu vực không có sẹo gần như bình thường. Nhìn chung, thận nhỏ và teo.

Phương pháp điều trị Viêm thận kẽ hiệu quả

  • Điều trị nguyên nhân (ví dụ: Ngừng thuốc gây bệnh);

  • Corticosteroid điều trị viêm thận kẽ cấp tính qua trung gian miễn dịch và đôi khi do thuốc.

Điều trị cả ATIN và CTIN cần giải quyết nguyên nhân gây bệnh.

Đối với ATIN miễn dịch và đôi khi ATIN do thuốc, corticosteroid (ví dụ, prednisone 1 mg/kg uống 1 lần/ngày với liều giảm dần trong 4 - 6 tuần) có thể đẩy nhanh quá trình hồi phục.

Đối với ATIN do thuốc, corticosteroid có hiệu quả nhất khi được sử dụng trong vòng 2 tuần kể từ khi ngừng thuốc gây bệnh. ATIN do NSAID ít đáp ứng với corticosteroid hơn ATIN do thuốc khác. Nên xác nhận chẩn đoán ATIN bằng sinh thiết trước khi bắt đầu dùng corticosteroid.

Điều trị viêm thận kẽ mãn tính (CTIN) thường cần đến các biện pháp hỗ trợ như kiểm soát huyết áp và điều trị thiếu máu liên quan đến bệnh thận. Ở những bệnh nhân bị CTIN và tổn thương thận đang tiến triển, thuốc ức chế men chuyển (ACE) hoặc thuốc chẹn thụ thể angiotensin II (ARB) có thể làm chậm sự tiến triển của bệnh nhưng không nên sử dụng cùng với nhau vì có thêm nguy cơ tăng kali máu và đẩy nhanh tiến triển của bệnh. 


Chế độ sinh hoạt và phòng ngừa

Những thói quen sinh hoạt có thể giúp bạn hạn chế diễn tiến của viêm thận kẽ

Chế độ sinh hoạt:

  • Tuân thủ theo hướng dẫn của bác sĩ trong việc điều trị. 

  • Duy trì lối sống tích cực, hạn chế sự căng thẳng.

  • Liên hệ ngay với bác sĩ khi cơ thể có những bất thường trong quá trình điều trị.

  • Thăm khám định kỳ để được theo dõi tình trạng sức khỏe, diễn tiến của bệnh và để bác sĩ tìm hướng điều trị phù hợp trong thời gian tiếp theo nếu bệnh chưa có dấu hiệu thuyên giảm.

  • Bệnh nhân cần lạc quan: Tâm lý có ảnh hưởng rất lớn đến điều trị, hãy nói chuyện với những người đáng tin cậy, chia sẻ với những thành viên trong gia đình, nuôi thú cưng hay đơn giản là đọc sách, làm bất cứ thứ gì khiến bạn thấy thoải mái. 

  • Tìm hiểu kỹ về tiền sử dị ứng thuốc đã được ghi nhận trước đó trước khi kê đơn một loại thuốc mới.

  • Từ bỏ các thói quen có hại cho sức khoẻ như hút thuốc lá, sử dụng chất kích thích, lạm dụng rượu bia...

Chế độ dinh dưỡng:

Bệnh nhân cao huyết áp nên thực hiện chế độ ăn ít natri. 

Đối với tất cả bệnh nhân bị bệnh thận giai đoạn đầu, khuyến nghị các hướng dẫn chung về chế độ ăn uống lành mạnh tức là chế độ ăn ít cholesterol nhiều rau quả tươi như chế độ ăn kiêng. 

Phương pháp phòng ngừa Viêm thận kẽ hiệu quả

Để phòng ngừa bệnh hiệu quả, bạn có thể tham khảo một số gợi ý dưới đây:

  • Điều trị các bệnh lý có thể gây ra viêm thận kẽ.

  • Khám sức khỏe định kỳ và đến gặp bác sĩ ngay khi có triệu chứng, dấu hiệu của viêm thận kẽ.

  • Không tự ý sử dụng thuốc và dược liệu mà không có ý kiến của bác sĩ.


  • Mọi thông tin trên đây chỉ mang tính chất tham khảo. Việc sử dụng thuốc phải tuân theo hướng dẫn của bác sĩ chuyên môn.
Nguồn tham khảo

    1. https://emedicine.medscape.com/article/243597

    2. https://www.msdmanuals.com/professional/genitourinary-disorders/tubulointerstitial-diseases/tubulointerstitial-nephritis

    3. https://www.ncbi.nlm.nih.gov/pmc/articles/PMC5099107/